[NHẶT NHẠNH] Viết sách cùng Vương Gia Vệ

Kỷ niệm quay lại sau 3 4 năm blog chết đứ đừ do dính mã độc khỉ gió gì đó. Xin cảm ơn chị Thomb em Hoàng đã giúp đỡ để khôi phục lại chiếc web lải nhải lập từ hồi hai mấy tuổi, bây giờ gần ba mấy rồi.

À đấy, kỷ niệm comeback bằng 1 chiếc entry trong series nhặt nhạnh sưu tầm dịch dọt – lần này là tâm sự về Vương Gia Vệ (nếu bạn không biết đây là ai thì cũng không sao, ông ấy cũng không quan tâm đến bạn cho lắm, và tôi cũng thế). Bài do John Powers, 1 người bạn và đồng nghiệp của ổng, viết trên Vogue năm 2016. Lưu từ đấy mà giờ mới được viết.

Bài dịch xin được bắt đầu.


2 năm trước (2014), tôi đang dự Cannes thì điện thoại đổ chuông. Thật bất ngờ khi đầu dây bên kia là tiếng của Vương Gia Vệ; tôi chưa nói chuyện với gã suốt từ năm 2013, lúc gã tới Los Angeles quảng bá The Grandmaster (Nhất Đại Tông Sư). Gã gọi từ Hong Kong và muốn hỏi tôi cái này. Gã tính xuất bản một cuốn sách về sự nghiệp bản thân với Rizzoli (NXB ở Mỹ – Huỳn tra), và cần một người tử tế viết nó. Tôi có gợi ý nào không?

Hiểu rõ cái tài năng ám chỉ thiên bẩm của gã họ Vương, tôi đồ rằng gã đang hỏi ý chính mình. Vì vậy, tôi chủ động tự ứng cử, và đương nhiên, gã đồng ý ngay lập tức. “Chúng ta đã quen nhau quá lâu rồi” – gã nói.

Đúng thế. Lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau là ở một bữa tối của Quentin Tarantino, tổ chức ăn mừng Chungking Express (Trùng Khánh Sâm Lâm) – bộ phim mà Vương sản xuất năm 1994, bộ phim đã làm cho Hong Kong cái điều mà Novelle Vague từng làm cho Paris. Cả tối, tôi lướt qua Vương – gã đàn ông trẻ tuổi trông buồn ghê gớm, mà chả hiểu lý do gì, luôn đeo kính râm trong nhà ban đêm. Lúc ấy tôi chưa nhận ra, những thứ ấy là một dấu hiệu nghệ sĩ đặc trưng: khi Vương đeo kính râm, có nghĩa là gã đang làm nhiệm vụ, đạo diễn – đạo diễn Vương Gia Vệ.

Trong suốt bữa tối, chúng tôi trêu đùa, nói chuyện phim ảnh, và cố gắng che giấu sự thích thú nhạt nhẽo trước khả năng đùa cợt vô biên của Quentining. Khi bữa ăn kết thúc, Vương nói với một đồng nghiệp: “Trông gã này (chỉ tôi) giống Đàm Gia Minh phiên bản da trắng nhỉ?” (Đàm Gia Minh – Pattrick Tam là một đạo diễn nổi tiếng người Hongkong, lúc ấy tôi biết tiếng chứ không biết mặt ông ấy. Và đúng là trông tôi hơi giống ông Đàm thật)

Lúc đó, Vương là người thích sự quen thuộc, và cái nét giống giống giữa tôi và người cộng sự quan trọng của cuộc đời gã, khiến gã chú ý. Vài tháng sau, ở một liên hoan phim, tôi nghe có tiếng gọi: “Đàm Gia Minh!”. Vương và tôi đi uống, và từ đó, chúng tôi trở thành thứ mà tôi hay gọi là những-người-quen-kiểu-bạn-bè (friendly acquaintances).

Cứ vài năm một lần – ở Hong Kong, Busan, Beverly Hills hay Toronto – chúng tôi đi ăn tối và tán gẫu mọi thứ, từ Martin Scorsese đến các chuyện vỉa hè sô bít Trung Hoa đại lục, cho tới cả chuyện các nhà hàng ở L.A đóng cửa sớm phát sốc, chuyện đó xúc phạm sự tinh ranh của gã cú đêm họ Vương. Và dần dần, gã bỏ cái kính râm ra.

Nếu gã có phim mới, gã luôn hỏi tôi thấy thế nào, và tôi sẽ trả lời thành thật. Tôi vẫn nhớ như in lần ở Cannes và đọc vanh vách các vấn đề của Happy Together (Xạ Tiết Xuân Quang) – dựng phim quá nhanh, “màu” phim (style) làm lu mờ hết nhân vật, vân vân. Tôi còn nhớ hơn cái thái độ bình tĩnh và không-hề-bị-xúc-phạm của gã. Điều làm cho sự bình tĩnh ấy trở nên đáng nhớ hơn, là những nhận xét đó của tôi hoàn toàn sai lầm. Bộ phim khiến gã thắng giải Đạo diễn xuất sắc nhất tại Cannes, và khi tôi xem lại Happy Together ở Mỹ, tôi tự hỏi cái phim tôi nghĩ mình đã xem trước đây là phim quái nào.

Tình đồng chí phương xa của chúng tôi kéo dài 20 năm, tất cả được ghi lại một cách không ràng buộc trong một cái băng ghi âm nhỏ. Chúng tôi còn chẳng có một cuộc phỏng vấn nhau tử tế nào, chứ đừng nói gì đến một cuốn sách hoành tráng.

Vậy mà giờ, chúng tôi đang lên kế hoạch cho quyển WKW – The Cinema of Wong Kar Wai (WKW – Điện ảnh của Vương Gia Vệ), nghe có vẻ không gấp gáp lắm, nhưng thực ra cần nhanh chóng bắt đầu. Mục tiêu là phải phát hành kịp ngày 4 tháng 5 năm 2015 – ngày khai mạc Met Gala chủ đề China: Through the Looking Glass, do Vương làm đạo diễn nghệ thuật. Có nghĩa là chúng tôi phải chạy đua với thời gian trong vài… tháng.

Đồng hồ đếm ngược, tháng 8 năm 2014, tôi bay tới Hongkong để bắt đầu phỏng vấn gã. Tôi chưa bao giờ nhận ra rằng: Vương là một Usain Bolt trong đường đua trì hoãn. Phim của gã khét tiếng bởi những lịch quay tưởng chừng như không bao giờ kết thúc và chuyện suốt ngày rời lịch phát hành. Vương luôn tự thừa nhận rằng, gã không thể tập trung vào một dự án nếu không bị dí sát súng vào đầu. Lúc đó, gã mới có thể toàn tâm toàn ý và tự tinh hoa phát tiết. Còn chưa đến lúc thì… Chúng tôi dành 2 ngày đầu tiên tụ tập với bạn của gã, Jet Tone – sở hữu văn phòng Causeway Bay đang trong quá trình bị dỡ bỏ. Văn phòng của Vương thì còn khá nguyên vẹn, với những giá lẫn lộn sách tiếng Anh và tiếng Trung đủ thể loại – gã là một độc giả phàm ăn, cùng những chiếc tủ trà chồng chất các kịch bản được hoặc mãi mãi không được sử dụng.

Như mọi khi, Vương là một kẻ đồng hành xuất sắc – thân thiện, vui vẻ, hài hước. Gã là một trong những kẻ có năng lực siêu quan sát, và luôn có cái vẻ như đang có bí mật gì đó khiến bạn phải tò mò. Chúng tôi tranh luận một cách mơ hồ về nội dung cuốn sách, sau đấy đi ăn trưa ở đường Tung Lo Wan (Causeway Bay), quán Classified – một nhà hàng Âu quen thuộc của gã và có siêu phẩm cà phê cho tôi. Uống cà phê, tôi sầu não nhận ra là mình chưa làm được cái quái gì cả. Cứ mỗi lần tôi định phỏng vấn, gã lại cười: “Để sau đi”.

Nhưng Vương cũng có lý của gã, và vào hôm thứ ba, chúng tôi lên xe với vợ gã, Esther, và từ đó, gã bắt đầu cho tôi bước vào thế giới của mình.

Chúng tôi khởi động ở Knutsford Terrace trong khu Tsim Sha Tsui, đảo Cửu Long (Kowloon). Vương lớn lên ở đây, lúc nó còn là một khu hỗn độn đông đúc đầy những người di cư từ Thượng Hải (như bố mẹ gã), các diễn viên, nhà văn, quý cô buổi tối, thợ may, sư phụ kungfu, những người Ấn mở cửa hàng gì đó, những nhạc công người Phillipines. Thời đó, khu này là ngôi nhà cho cuộc sống yên ả về đêm, và nhà cũ của Vương – mang số 2, giờ là một nhà hàng Ý tên Papa Razzi, một cái tên hết sức mỉa mai với nhà-làm-phim-nổi-tiếng-thế-giới từng sống ở đó. Với gã, vẫn vậy, đó là nơi đầy ắp những kỷ niệm đậm chất Fellini vốn luôn tràn trề trong các tác phẩm của mình. Mắt gã cứ sáng bừng lên mỗi khi nói về chúng.

Từ đó, chúng tôi đi tiếp về khu chung cư Trùng Khánh (Chungking Mansions), cái chợ trời đa văn hóa, đa giá trị, đa âm thanh màu sắc bất tử trong Chungking Express. Mua vài cái bánh samosas của một shop bán hàng qua cửa kính, gã kể về bố mình – trước là một thủy thủ – từng quản lý nightclub lớn nhất Hongkong trong tòa nhà đó. Và từ đó, gã dẫn tôi xuống quán cafe dưới tầng hầm, nơi gã viết hầu hết các kịch bản thưở thiếu thời. Nhưng lại 1 lần nữa, quán cà phê đó, như phần lớn cái Hongkong mà hắn yêu, đã biến mất, được thay thế bởi 1 cửa tiệm kim hoàn.

Chúng tôi kết thúc bằng một bữa ăn tối ở Café de Goldfinch, một nhà hàng đáng kính chú trọng về không khí hơn là đồ ăn, nơi gã đã quay bộ phim tâm đắc nhất của mình, In the Mood for Love (Tâm trạng khi yêu), và sau đó là cảnh kinh điển của Chương Tử Di trong 2046. Vương tính gọi cho tôi một trong các món đặc trưng nhất: súp vi cá mập – một món ăn kết hợp giữa (hoặc làm biến mất luôn???) ẩm thực Nga và Trung Hoa. Và thật cứu rỗi làm sao, hết đồ.

Maggie Cheung

Trương Mạn Ngọc và Lương Triều Vỹ. Ảnh: Courtesy of USA Films (US)

Tôi lấy máy ghi âm ra, và Vương lại một lần nữa chống chế: “Để sau đi”; rốt cục tôi đã nói chuyện với Esther, cô ấy chưa bao giờ được phỏng vấn. Dù Vương rất nổi tiếng với những câu chuyện thất vọng lãng mạn, gã và Esther đã ở bên nhau kể từ lần gặp đầu tiên, khi còn là những thiếu niên cùng bán quần bò vào 4 thập kỷ trước. Chung thủy tuyệt đối với cô, gã luôn lo lắng rằng khi làm phim, mình đã dành quá ít thời gian bên vợ và con trai, Qing (Thanh), một sinh viên Berkeley luôn được Vương giữ kín đời tư, gã không làm những sự kiến công cộng lớn ở vùng vịnh.

Mãi đến tận đêm cuối ở Hongkong, tôi mới phỏng vấn được gã. Chúng tôi ngồi uống ở Juliette’s, một bar gần văn phòng mà gã thường tụ tập cùng đồng nghiệp ở bàn góc. Tôi hỏi về phim đầu tiên, As Tears Go By (Vượng Giác Tạp Môn), và gã bắt đầu nói về Hong Kong, các phim xã hội đen, và làm việc với những ngôi sao lớn như Lưu Đức Hoa và Trương Mạn Ngọc. Chúng tôi liên tục ghi âm cho đến khi không nói được nữa. Dù độ thận trọng trong cuộc sống của Vương luôn ngang ngửa với độ táo bạo trong nghệ thuật của gã, nhưng ngày hôm ấy, gã đã nói rất nhiều chuyện chưa bao giờ nói. Nếu chỉ làm 1 bài tạp chí, như vậy đã là quá đủ. Nhưng chúng tôi còn những 10 bộ phim, chưa kể còn cuộc đời gã, làm thế nào để xong hết đây?

Bay về L.A, tôi đã được trải nghiệm thứ đặc trưng khi làm những bộ phim thai nghén lâu dài của Vương: bạn sẽ chỉ đợi và đợi, tất cả phụ thuộc vào quyết định của gã, không biết bao giờ mới kết thúc.

Trở lại Hong Kong vào tháng 10, tôi ở một khách sạn gần văn phòng mới của Vương ở Cyberport, một khu phức hợp tương lai ngoài khơi Telegraph Bay, đáng chú ý bởi những công nghệ vô hồn và Wifi tậm tịt. Lần này, Vương cũng đã nghe ra tiếng đồng hồ đếm ngược, và gã tập trung lắm, phỏng vấn liền 30 tiếng về mọi thứ – thời thơ ấu, lịch sử gia đình ở Trung Quốc, đêm khai mạc êm đềm của bộ phim rực rỡ Days of Being Wild (A Phi chính truyện) mà khi chiếu xong, không ai nói chuyện với gã.

Gã cho tôi ăn món súp phổi lợn đặc sản Quảng Đông (đồ là phá lấu nhỉ) – Vương thích thử nghiệm tuyên bố hùng hồn muốn thử ẩm thực đậm chất Trung Hoa của tôi – và sắp xếp phỏng vấn với nhà sản xuất của gã, Jacky Pang – một phụ nữ vui vẻ, và người cộng sự quan trọng nhất, William Chang Suk Ping (Trương Thúc Bình) – một thiên tài đa năng làm từ thiết kế sản xuất, trang phục, làm tóc, trang điểm đến dựng phim trong các tác phẩm của Vương.

Lần này khi về nhà, tôi nghĩ chắc mình có thể kịp thời hạn. Và ý nghĩ này thật đần độn. Khi tôi gọi tới văn phòng Jet Tone vào đúng hôm deadline, ngày 10/11, để hỏi xem Vương và cộng sự đã xong hết các bản viết chưa, thì người em “bé nhỏ” của gã, Norman Wang, nói rằng có một vấn đề nhỏ.

– Gì vậy?

– Gia Vệ không chắc tại sao anh ấy lại muốn ra sách?

Mặc dù lẽ ra không nên bất ngờ, nhưng tôi vẫn sốc.

– Không phải nên nghĩ về cái đấy trước khi bắt đầu à?

Norman cười. “Đừng lo. Anh ấy cũng luôn thế với mấy bộ phim ý mà, đấy là kiểu làm việc đó.”

Không cần phải tranh cãi về chuyện ấy – nhất là khi quyển sách nói về Vương, chứ không phải tôi. Hơn nữa, làm sao bạn có thể giận dỗi khi một huyền thoại trì hoãn đang chậm deadline trong một dự án mà khi bắt đầu tham gia, bạn đã hiểu quá rõ huyền thoại ấy rồi? Chúng tôi lập tức rời ngày phát hành, và tôi bắt đầu nghi ngờ liệu có bao giờ ra được sách không. Cuối cùng, Vương vẫn là gã đàn ông có bộ não chứa vô số các khả năng. Gã biên tập lại – và phát hành – bộ phim cổ trang nghệ thuật Ashes of Time (Đông Tà Tây Độc), hơn một thập kỷ từ bản phát hành đầu tiên năm 1994.

Như những bộ phim của mình, Vương bắt đầu ngồi nhặt nhạnh chắp nối các đoạn phỏng vấn, đều đều gửi tôi những đoạn biên tập cuối cùng để đảm bảo logic trôi chảy. Dần dần, tôi bắt đầu khôi phục ý nghĩ ngon ngọt rằng, cái tính chống đối của người Trung Quốc luôn khiến gã cắt chỗ này xén chỗ nọ, còn tính nói nhiều của người Mỹ khiến tôi không thể bớt cái gì, thi thoảng, gã bỏ đi, bảo tôi rằng cái dòng mà tôi thấy hay ấy, sẽ gây ra thảm họa ở Trung Quốc.

Đầu tháng 5, 2015, tức là 6 tháng sau, khi chúng tôi gặp lại ở Bảo tàng nghệ thuật Metropolitan New York, gã vẫn đang trong giai đoạn chắp chắp vá vá. Cả tối, tôi đi theo gã và Trương Thúc Bình, nghe họ bàn luận từng chi tiết về show bom tấn “China: Through the Looking Glass.” Họ đi loanh quanh, chỉnh các máy chiếu từng li từng tí, thử đèn đóm, kiểm soát từng decibel âm thanh trong từng phòng. Nhìn những hành động ấy, tôi đã hiểu tại sao Vương lại không thể cho ra sách đúng hạn. Chúng ta cần thời gian cho sự hoàn hảo.

Dần dần, Vương tuyên bố hoàn thành cuốn WKW: The Cinema of Wong Kar Wai. Đúng như Norman dự đoán, gã đã tìm ra lý do đủ thuyết phục để nói với thế giới điều gã chưa bao giờ công bố trước đây: gã muốn con trai mình hiểu cuộc đời bố, và thứ bố đã theo đuổi trong suốt ngần ấy năm.

Với tôi, khi đồng ý làm WKW, một người bạn thân hâm mộ Vương nói: “Tôi hy vọng anh sẽ không ghét anh ấy sau vụ này”. Cô ấy không đùa. Cô ấy đã nhắc nhở tôi sự thật rằng: khi các nhà phê bình gần gũi với các nhà làm phim, đặc biệt những nhà làm phim lớn, họ sẽ vỡ mộng, hoặc thậm chí tệ hơn.

Giờ đây, thật may mắn và hạnh phúc, tôi có thể nói rằng, chuyện ấy đã không xảy ra. Lần cuối tôi gặp Vương Gia Vệ là ở Four Seasons trên Beverly Hills, gã tới để bàn luận về một số chương trình TV và dự án phim Mỹ đang theo đuổi. Cuốn sách trong gương chiếu hậu, đèn đỏ của máy ghi âm đã tắt, chúng tôi thực sự nghỉ ngơi. Gã hỏi về Scorsese (khi nào phim Silence sẽ ra?), tôi hỏi về Chương Tử Di, có lần tôi đã cùng cô ấy rước đuốc ở Thế vận hội Hy Lạp; và chúng tôi cùng thống nhất rằng lần sau hắn tới, sẽ đi ăn ở phố Hàn. Vì cũng như Hong Kong, chỗ ấy sẽ mở cho đến tận sáng mai.

Nguồn: https://www.vogue.com/article/wong-kar-wai-book

minhhuyennguyen – dịch ngày sinh nhật Vũ Nữ